SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
0
3
6
0
9
4
Văn hóa - Xã hội Thứ Năm, 03/08/2017, 09:40

Nghị quyết 02-NQ/HU ngày 24/10/2016 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện, khóa XII

Về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững giai đoạn 2016 - 2020

 

 

   ĐẢNG BỘ TỈNH BẠC LIÊU

     HUYỆN ỦY HỒNG DÂN

                          *

            Số  02-NQ/HU

    ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Hồng Dân, ngày 24 tháng 10 năm 2016

              

                                               

NGHỊ QUYẾT

CỦA BAN CHẤP HÀNH ĐẢNG BỘ HUYỆN, KHÓA XII

Về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững giai đoạn 2016 - 2020

-----------------------

 

Sau hơn 15 năm điều chỉnh địa giới hành chính, dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, tình hình kinh tế - xã hội của huyện nhà đã đạt được những kết quả quan trọng. Kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng nông nghiệp,  thương mại - dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường. Nông nghiệp ngày càng khẳng định là thế mạnh của huyện (chiếm 67,22% trong cơ cấu kinh tế) và tiếp tục phát triển với tốc độ khá cao theo hướng sản xuất hàng hoá, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; tổng sản lượng lúa đạt 219.700 tấn/năm, sản lượng thủy sản đạt 32.400 tấn/năm, giá trị sản xuất nông nghiệp – thủy sản tăng trưởng bình quân là 9,36%/năm; xây dựng nông thôn mới đạt theo lộ trình; công tác giảm nghèo đạt được kết quả khá cao. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở được củng cố và tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên.

- Tuy nhiên, những kết quả đạt được trong sản xuất nông nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của huyện. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp còn chậm, phổ biến vẫn là quy mô sản xuất nhỏ, lẻ; năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của nhiều mặt hàng chưa cao, sức cạnh tranh hạn chế; khai thác, sử dụng tài nguyên đất chưa hợp lý, tình trạng để đất trống, đất vườn tạp kém hiệu quả còn khá nhiều; chưa phát huy hết sức lao động. Các hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới; việc liên kết và thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá chưa hiệu quả.

- Những hạn chế, yếu kém trên, nguyên nhân chủ yếu là do: một số cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp ở nông thôn có lúc, có nơi còn hạn chế, chưa coi trọng đẩy mạnh phát triển nông nghiệp hàng hoá ở nông thôn. Kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất chưa đồng bộ; đầu tư từ ngân sách nhà nước, thu hút doanh nghiệp đầu tư phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất chưa đáp ứng yêu cầu. Chưa thực hiện tốt khâu giống, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới tổ chức sản xuất. Xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức; chất lượng nguồn nhân lực cho nông nghiệp còn thấp. Tập quán sản xuất dựa vào kinh nghiệm truyền thống trong nhân dân chậm được thay đổi.

I. DỰ BÁO TÌNH HÌNH

Thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp trong những năm tới, huyện Hồng Dân có nhiều thuận lợi song cũng gặp không ít khó khăn, đó là:

- Về thuận lợi: Kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển nông nghiệp từng bước đầu tư xây dựng cơ bản đáp ứng được nhu cầu sản xuất. Hệ thống thủy lợi, thủy nông nội đồng, ô đê bao, trạm bơm điện và các công trình của tỉnh đầu tư cho phát triển nông nghiệp được triển khai thực hiện trên địa bàn huyện như: hệ thống đập phân ranh mặn ngọt Sóc Trăng – Bạc Liêu, hạ tầng lúa – tôm vùng chuyển đổi, tạo nhiều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh; lòng tin của nhân dân được củng cố; những kinh nghiệm được tích lũy trong sản xuất, trong đời sống của nhân dân sẽ tạo đà để Hồng Dân tiếp tục vươn lên.

- Về khó khăn: Những năm tới trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực ngày càng mạnh mẽ, tỉnh ta nói chung, huyện ta nói riêng sẽ có nhiều cơ hội nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, nhất là sản xuất nông nghiệp hàng hóa ngày càng cạnh tranh gay gắt; trong khi nội lực chưa được phát huy mạnh mẽ, chất lượng sản phẩm không cao; mặc dù được đầu tư nhưng nguồn nhân lực tuy dồi dào nhưng lao động có chuyên môn kỷ thuật cao còn quá ít; tư duy sản xuất quy mô nhỏ, dựa vào kinh nghiệm truyền thống chậm được thay đổi, ý thức liên kết trong sản xuất còn hạn chế; hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông nội đồng, hệ thống đập ngăn mặn, ô đê bao chưa thật sự hoàn thiện. Mặt khác, tình hình biến đổi khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp, tác động tiêu cực đến sản xuất và đời sống người dân, sẽ là những trở ngại không nhỏ trong thực hiện nhiệm vụ phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững giai đoạn 2016 – 2020 của huyện.

II. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU

1. Quan điểm

- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững có vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện, lấy nông nghiệp là nền tảng gắn với xây dựng nông thôn mới; tăng thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nông dân.

- Phát triển nông nghiệp phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường, phát huy được lợi thế, tiềm năng của hai vùng mặn ngọt, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, trước hết là lao động, đất đai; đẩy nhanh ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp và phát triển nguồn nhân lực, nâng cao trình độ nông dân; phát triển và nâng cao chất lượng thương mại, dịch vụ phục vụ cho nông nghiệp.

- Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước, tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân; giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường sinh thái của huyện.

2. Mục tiêu, chỉ tiêu cụ thể

* Mục tiêu:

Phát triển nền nông nghiệp theo hướng toàn diện, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao trên thị trường. Trọng tâm là sản xuất nông nghiệp gắn với phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, thương mại, dịch vụ theo quy hoạch; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý góp phần phát triển nhanh và bền vững kinh tế - xã hội của huyện. Xây dựng nông thôn mới đạt theo lộ trình và có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng yêu cầu phục vụ sản xuất, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Xây dựng cánh đồng lớn và nâng cao chuỗi giá trị gia tăng, phát triển bền vững, xây dựng mô hình sản xuất phù hợp với từng vùng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Trong đó,  cây trồng, vật nuôi chủ lực của huyện là cây lúa và con tôm (sú, thẻ).

* Chỉ tiêu cụ thể đến năm 2020

- Tăng trưởng nông nghiệp bình quân là 4%/năm (trong cơ cấu nông nghiệp, thủy sản chiếm 55%).

- Vùng ngọt ổn định giữ vững diện tích đất trồng lúa 8.954 ha; vùng chuyển đổi trồng lúa Một bụi đỏ 10.000 ha;

- Tổng sản lượng lúa đạt 220.160 tấn, giá trị sản xuất bình quân đạt trên 90 triệu đồng/ha; tổng sản lượng thủy sản đạt 38.000 tấn.

- Đảm bảo giao thông thông suốt 02 mùa mưa nắng và cơ bản 100% xã có đường ô tô về đến trung tâm xã; tỷ lệ sử dụng điện sinh hoạt đạt 95% trở lên.

- Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2020 đạt từ 60% trở lên. Mỗi năm cơ bản giải quyết việc làm cho 2.600 lao động trở lên.

- Thu nhập bình quân đầu người khoảng 57 triệu đồng.

- Số xã đạt tiêu chí nông thôn mới đến năm 2020 có từ 4 đến 5 xã (tương đương 50%).

III. NHIỆM VỤ CHỦ YẾU

1. Lĩnh vực trồng trọt

- Từng bước hình thành cánh đồng lớn ở các xã, thị trấn: Ninh Quới, Ninh Quới A, Ninh Hòa, Lộc Ninh, Vĩnh Lộc và thị trấn Ngan Dừa. Đẩy mạnh liên kết với Công ty trách nhiệm hữu hạn MTV Lương thực Vĩnh Lộc (Tập đoàn Lộc Trời) và một số công ty, doanh nghiệp khác để đến năm 2020 diện tích liên kết sản xuất lúa đạt trên 8.000 ha/vụ lúa.

- Xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu sản phẩm các mặt hàng chủ lực của huyện; thực hiện tốt các quy định về môi trường trong sử dụng vật tư và xử lý chất thải nông nghiệp, sử dụng giống lúa mới có năng suất, chất lượng cao, kháng sâu bệnh, có khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng (chịu hạn, chịu ngập và chịu mặn), nhất là xâm nhập mặn vào vùng sản xuất chuyên lúa.

- Ứng dụng rộng rãi các tiến bộ khoa học kỹ thuật công nghệ vào sản xuất, nhằm nâng cao sản lượng trên cùng diện tích, gắn kết với các doanh nghiệp tạo thành chuỗi liên kết có giá trị kinh tế cao.

- Nhân rộng các mô hình đưa màu xuống ruộng, đẩy mạnh cải tạo vườn tạp, trồng các loại cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Tổ chức tập huấn khuyến nông nhằm nâng cao kỹ thuật trồng, chăm sóc, thu hoạch, bảo quản sau thu hoạch.

2. Lĩnh vực thủy sản, chăn nuôi

- Phát triển vùng lúa – tôm ổn định, đẩy mạnh nuôi tôm theo hướng tôm sạch; tiếp tục xác định tôm sú, thẻ với hình thức nuôi quảng canh cải tiến và lúa Một bụi đỏ là giống chủ lực, thực hiện nhân rộng mô hình nuôi tôm càng xanh và các loài thủy sản khác trên ruộng lúa ở vùng chuyển đổi.

- Phát triển chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm và một số loài động vật hoang dã theo hướng trang trại, phù hợp với lợi thế của từng vùng gắn với các cơ sở giết mổ, xử lý chất thải đảm bảo an toàn thực phẩm, vệ sinh môi trường; từng bước chuyển đổi chăn nuôi nhỏ lẻ ở hộ gia đình sang hình thức trang trại an toàn sinh học.

IV. CÁC NHÓM GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

1. Công tác tuyên truyền, phổ biến và quán triệt Nghị quyết

- Tăng cường công tác tuyên truyền, quán triệt từ trong nội bộ Đảng đến các ngành, các cấp, các doanh nghiệp, cán bộ, đảng viên và nhân dân trong huyện nhận thức đầy đủ, sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; thực trạng, những hạn chế, yếu kém trong sản xuất nông nghiệp hiện nay; tiềm năng, những cơ hội và thách thức trong quá trình hội nhập và phát triển. Từ đó, thống nhất cao về những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp; tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động, thay đổi tư duy trong sản xuất nông nghiệp, sản xuất theo tiêu chuẩn, dựa trên tiến bộ khoa học, công nghệ để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển nông nghiệp bền vững.

- Các cơ quan thông tin đại chúng tổ chức đưa tin, bài về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững.

2. Xây dựng nền nông nghiệp toàn diện, bền vững

- Tiến hành rà soát điều chỉnh, bổ sung quy hoạch sản xuất; tập trung đẩy nhanh quá trình sản xuất nông nghiệp; bố trí lại cơ cấu cây trồng, mùa vụ và giống để giảm thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh phù hợp với điều kiện của hai vùng mặn, ngọt; lồng ghép các nội dung bảo vệ môi trường vào các quy hoạch, dự án, chương trình, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Tiếp tục chỉ đạo thực hiện liên kết "4 nhà" đi vào chiều sâu, tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư phát triển sản xuất, tiếp cận thu mua, tiêu thụ nông sản hàng hoá cho nông dân.

- Tăng cường công tác chỉ đạo phát triển mô hình kinh tế hợp tác – hợp tác xã phù hợp với điều kiện của địa phương; phấn đấu mỗi xã, thị trấn phải có ít nhất 01 hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp có hiệu quả và bền vững.

- Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, phải gắn phát triển công nghiệp, thương mại, dịch vụ. Khuyến khích đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, phục vụ sản xuất và chế biến nông sản, thuỷ sản, thức ăn chăn nuôi. Quan tâm hướng dẫn các biện pháp thâm canh, nâng cao năng suất, chất lượng, nhất là các nông sản đã có thương hiệu, chỉ dẫn địa lý....

- Đảm bảo sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả đất nông nghiệp, duy trì diện tích đất trồng lúa phục vụ lương thực trước mắt và lâu dài; vận động nhân dân dồn điền đổi thửa hoặc cho thuê đất sản xuất nông nghiệp để hình thành nền sản xuất lớn... Phát triển sản xuất với quy mô hợp lý các loại nông sản hàng hoá có lợi thế trên thị trường. Tranh thủ đầu tư, ứng dụng khoa học - công nghệ vào sản xuất, thay đổi tập quán canh tác lạc hậu để sử dụng có hiệu quả đất đai, lao động, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nông sản theo hướng nông sản sạch, đạt chuẩn trong và ngoài nước.

- Phát triển ngành trồng trọt, hình thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung, thực hiện đầu tư thâm canh, áp dụng quy trình sản xuất mới; đẩy nhanh cơ giới hoá, ứng dụng tiến bộ khoa học, kỷ thuật đồng bộ các khâu sản xuất, hiện đại hoá công nghiệp bảo quản, chế biến; nâng cao chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm và giá trị gia tăng của nông sản hàng hóa.

- Phát triển ngành chăn nuôi theo hướng an toàn dịch bệnh, phù hợp với lợi thế của từng vùng; chú trọng phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm; tập trung cải tạo và nâng cao chất lượng giống, áp dụng quy trình chăn nuôi tiên tiến để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả; tăng cường công tác thú y, phòng chống dịch bệnh; khuyến khích phát triển sản xuất thức ăn chăn nuôi; tổ chức lại và hiện đại hoá cơ sở giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm.

- Phát triển mạnh nuôi trồng thuỷ sản đa dạng, theo quy hoạch, gắn với nhu cầu thị trường; xây dựng mạng lưới thú y thuỷ sản; kiểm soát chặt chẽ chất lượng giống, thức ăn, vật tư nuôi trồng thủy sản, môi trường nuôi; các cơ sở chế biến, đảm bảo các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm.

3. Xây dựng kết cấu hạ tầng phục vụ cho phát triển nông nghiệp

- Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống đê sông cái Ngan Dừa – Ninh Hòa – Ninh Quới, hạ tầng lúa, tôm vùng chuyển đổi và hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông nội đồng, hệ thống đập ngăn mặn, trạm bơm điện; ô đê bao khép kín để tổ chức quản lý, khai thác có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phòng, chống bão, lũ và nước biển dâng.

- Cải tạo và phát triển đồng bộ hệ thống lưới điện, bảo đảm đủ điện phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; nâng cao chất lượng điện phục vụ sinh hoạt cho dân cư nông thôn. Phát triển hệ thống bưu chính viễn thông, nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho mọi người dân; xây dựng hệ thống chợ nông sản phù hợp với từng xã theo quy hoạch. 

- Nâng cao năng lực công tác phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, tìm kiếm cứu nạn; chủ động triển khai các bước và các giải pháp giảm thiểu tác hại của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường, ngăn chặn và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường đang ngày càng gia tăng.

4. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân

- Giải quyết việc làm cho nông dân là nhiệm vụ ưu tiên xuyên suốt trong mọi chương trình phát triển kinh tế - xã hội của huyện; bảo đảm hài hoà và thu hẹp khoảng cách giàu, nghèo. Có kế hoạch cụ thể về đào tạo nghề và chính sách đảm bảo việc làm cho nông dân.

- Tập trung nguồn lực và tăng cường chỉ đạo thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, nhất là công tác giảm nghèo nhằm giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 2% đến 3%/ năm (chuẩn mới).

- Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; thực hiện tốt chính sách bảo hiểm y tế, dân số, giảm tỷ lệ sinh; quan tâm đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; tiếp tục chỉ đạo hoàn thiện và thực hiện đầy đủ quy chế dân chủ cơ sở.

5. Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tăng cường thu hút đầu tư

- Thực hiện tốt các chính sách của Trung ương, của tỉnh, đồng thời xây dựng, hoàn thiện đồng bộ các cơ chế, chính sách của huyện để thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Có chính sách giải quyết tốt vấn đề đất ở, nhà ở, việc làm cho người bị thu hồi đất; có quy hoạch cụ thể giữ vững ổn định diện tích đất trồng lúa.

- Rà soát, điều chỉnh cơ cấu đầu tư ngân sách… tăng đầu tư phát triển cho nông nghiệp; có cơ chế điều tiết, phân bổ đầu tư ngân sách nhà nước đảm bảo lợi ích của các xã, thị trấn có điều kiện phát triển nông nghiệp, nhất là chuyên trồng lúa và nuôi trồng thủy sản.

- Tiếp tục dành nguồn vốn tín dụng ưu đãi và khuyến khích các ngân hàng cho vay đối với sản xuất nông nghiệp. Có cơ chế, chính sách đủ mạnh khuyến khích các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn.

- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp chế biến gắn với vùng nguyên liệu và thị trường, đẩy mạnh sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề truyền thống; triển khai chương trình bảo tồn và phát triển làng nghề; nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống của nhân dân.

V. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Ban Thường vụ Huyện ủy thành lập Ban Chỉ đạo để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện toàn diện Nghị quyết.

2. Hội đồng nhân dân huyện kịp thời thể chế hóa thành cơ chế, chính sách để tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

3. Ủy ban nhân dân huyện xây kế hoạch cụ thể hóa Nghị quyết này. Tranh thủ sự quan tâm của Trung ương, của tỉnh đối với huyện để đầu tư cho nông nghiệp theo hướng toàn diện, bền vững.

Đồng thời có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, định kỳ sơ, tổng kết báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết này với Ban Thường vụ Huyện ủy.

4. Các đảng ủy xã, thị trấn xây dựng Chương trình hành động của cấp ủy để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết phù hợp với thực tế của từng cơ quan, đơn vị.

5. Giao Ban Tuyên giáo Huyện ủy tham mưu cho Ban Thường vụ Huyện ủy triển khai, quán triệt Nghị quyết này đến các đảng bộ, chi bộ trực thuộc. Các cơ quan thông tin đại chúng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể tăng cường tuyên truyền Nghị quyết này đến cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng, đầy đủ về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp toàn diện và bền vững giai đoạn 2016 - 2020 trên địa bàn huyện./.

 

Nơi nhận:                                                                    

- Thường trực Tỉnh ủy b/c);                                                                                

- Các đồng chí trong Huyện ủy;

- Các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc;

- Mặt trận TQ, đoàn thể, các ngành cấp huyện;

- Lưu Văn phòng Huyện ủy.        

                     T/M HUYỆN UỶ

                    Q. BÍ THƯ

 

 

                   (Đã ký)

 

 

                     Nguyễn Hồng Hoa

Tải về


Số lượt người xem: 1828 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
Ninh hòa thực hiện công tác Dân vận trong xây dựng nông thôn mới
Kiểm tra việc thực hiện Quy định 47 của Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cần quan tâm hơn nữa công tác tuyên truyền trong xây dựng nông thôn mới
Tuổi trẻ Hồng Dân chung sức xây dựng nông thôn mới
Tổ chức quán triệt, học tập Nghị quyết Hội nghị lần thứ 10 (Khóa XI) của Đảng
Hiệu quả từ các mô hình trong xây dựng Nông thôn mới của Phụ nữ
Phòng Giáo dục - Đào tạo Huyện Hồng Dân tổ chức Hội thi "Bé thông minh, sáng tạo" năm học 2011 - 2012
Hồng Dân với cuộc vận động “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước”
Phóng sự chân dung: Những tấm gương người khmer thoát nghèo ở xã Ninh Thạnh Lợi.
Phụ nữ Huyện Hồng Dân đẩy mạnh phong trào giúp nhau phát triển kinh tế
Cựu chiến binh xã Ninh Quới giúp nhau giảm nghèo
Triển khai chuyên đề “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” năm 2015
Công tác vận động quần chúng ở Huyện Hồng Dân với những kết quả đáng ghi nhận
Nghiệm thu, vận hành máy sàng lọc lúa giống tại huyện Hồng Dân
Huyện Hồng Dân: Dồn sức thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2011
Bạc Liêu: Khánh thành và thông xe cầu Ninh Quới huyện Hồng Dân
Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong xây dựng nông thôn mới
Huyện Hồng Dân: Đón nhận quân nhân xuất ngũ về địa phương
UBND Huyện Hồng Dân tổ chức kiểm tra 5 năm thực hiện hiện phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực”.
Kế hoạch sắp xếp trật tự mua bán và phòng, chống cháy nổ năm 2013
Đảng bộ xã Ninh Quới học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về phong cách dân chủ
Huyện Hồng Dân tổ chức trao vốn và phương tiện hỗ trợ cho người nghèo tại xã Ninh Thạnh Lợi
Hồng Dân: Nhiều công trình chào mừng Đại hội Đảng các cấp
Hồng Dân hoàn thành kế hoạch khảo nghiệm lúa chịu độ mặn cao VL1 - VL2 (Lúa Sỏi)
Công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm cho người dân
Ban chấp hành Huyện đoàn Hồng Dân triển khai kế hoạch hành động tháng thanh niên
Ngành Giáo dục phát động thi đua chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11
Công ty TNHH MTV lương thực Vĩnh Lộc với phương châm “3 cùng”
Công an Huyện Hồng Dân tổ chức lễ ra quân các doanh nghiệp đỡ đầu tổ chức quần chung bảo vệ ANTT
Ninh Thạnh Lợi A sau 4 năm xây dựng xã văn hóa Nông thôn mới